Tiendientu.org

Blockchain là gì?

Icon 31/05/2017 Icon https://tiendientu.org/?p=284 Icon copy link

Blockchain – nguyên bản là block(khối) và chain (chuỗi) – là một cơ sở dữ liệu phân quyền (distributed database) liên tục duy trì một danh sách những hồ sơ lưu trữ, gọi là các block, được bảo vệ tránh khỏi việc giả mạo và sửa đổi. Mỗi Block chứa một nhãn thời gian (timestamp) và một liên kết (link) đến Block trước đó. Bằng thiết kế của mình, Blockchain có khả năng kháng cự vốn có đối với việc sửa đổi dữ liệu – một khi đã được ghi nhận lưu trữ, dữ liệu trong một Block không thể bị thay đổi hay đảo ngược lại. Mặc dù việc sử dụng mạng lưới ngang hàng peer to peer và server timestamping phân quyền, cơ sở dữ liệu vẫn được quản lý ẩn danh. Blockchain là “một sổ cái mở phân phối (distributed ledger) có thể ghi nhận các giao dịch giữa hai bên một cách hiệu quả bằng cách kiểm chứng lâu dài. Sổ cái cũng có thể được lập trình để kích hoạt giao dịch tự động.
Blockchain được bảo mật bằng thiết kế và là một ví dụ cho hệ thống tính toán phân quyền với dung sai lỗi byzantine lớn. Sự đồng thuận phân quyền (decentralized consensus) có thể đạt được với một Blockchain. Điều này đã giúp các Blockchain phù hợp với việc ghi nhận các sự kiện, hồ sơ y khoa và các hoạt động quản lý dữ liệu khác, quản lý nhận dạng, quá trình giao dịch, và ghi chép về nguồn gốc.
Blockchain đầu tiên được khái niệm hóa bởi Satoshi Nakamoto vào năm 2008 và được hoàn thành vào năm tiếp theo với tư cách là cốt lõi của đồng tiền kỹ thuật số Bitcoin, tại đây Blockchain thực hiện công việc trở thành một sổ cái công cộng cho tất cả các giao dịch. Việc phát minh ra Blockchain cho Bitcoin làm nó loại tiền này trở thành tiền tệ số đầu tiên giải quyết vấn đề double spending (chi tiêu hai lần với cùng một số tiền) mà không cần sử dụng một bên tin cậy khác hay máy chủ trung tâm. Thiết kế của Bitcoin đã và đang là nguồn cảm hứng cho các ứng dụng khác.
Tìm hiểu cryptocurrency trên nền tảng Blockchain đầu tiên của thế giới – Bitcoin là gì ?

Lịch sử

Công việc đầu tiên trong chuỗi các block được bảo vệ bằng mã hóa đã được mô tả vào năm 1991 bởi Stuart Haber and W. Scott Stornetta, đăng trên tờ báo năm 1996 bởi Ross J.Anderson, vào 1997 bởi Michael Doyle và 1998 bởi Bruce Schneier và John Kelsey. Song song đó, năm 1998 Nick Szabo đã đang làm việc trong cơ chế của tiền tệ kỹ thuật số mà ông gọi là bit gold. Năm 2000, Stefan đã công bố một lý thuyết chung cho các chuỗi được bảo vệ bằng mã hóa và mong đợi những giải pháp hoàn thành.
Blockchain đầu tiền sau đó đã được khái niệm hóa bởi Satoshi Nakamoto vào năm 2008 và được hoàn thành vào năm tiếp theo với tư cách là cốt lõi của đồng tiền kỹ thuật số Bitcoin, tại đây Blockchain thực hiện công việc trở thành một sổ cái công cộng cho tất cả các giao dịch. Mặc dù việc sử dụng mạng lưới ngang hàng peer to peer và server timestamping phân quyền, cơ sở dữ liệu vẫn được quản lý ẩn danh. Việc phát minh ra Blockchain cho Bitcoin làm nó loại tiền này trở thành tiền tệ số đầu tiên giải quyết vấn đề double spending (chi tiêu hai lần với cùng một số tiền) mà không cần đến một bên quản trị tin cậy khác. Thiết kế của Bitcoin đã tạo cảm hứng cho các ứng dụng khác cho đến ngày hôm nay.
Thuật ngữ “Block” và “chain” được sử dụng tách biệt trong tài liệu nguyên gốc của Satoshi Nakamoto vào tháng 10.2008, và khi được sử dụng rộng rãi hơn thì nguyên bản nó là block chain, trước khi trở thành một từ đơn là Blockchain và năm 2016. Vào tháng 8.2014, kích thước file Blockchain Bitcoin đã đạt đến 20 gigabyte. Vào tháng 1.2015, kích thước đã phát triển đến gần 30 gigabyte và từ tháng 1.2016 đến 1.2017 đã tăng từ 50 gigabyte đến 100 gigabyte.
Từ 2014, thuật ngữ “Blockchain 2.0” được dùng để thay thế cho các ứng dụng mới trên cơ sở dữ liệu phân phối Blockchain. Tờ The Economist đã mô tả việc hoàn thành ‘Blockchain đời thứ hai có thể lập trình’ như là “một ngôn ngữ lập trình cho phép người dùng viết các smart contract tinh vi hơn, từ đó tạo ra các hóa đơn (invoice) có khả năng tự thanh toán khi lô hàng đến hoặc giấy chứng nhận cổ phần sẽ tự động gửi cổ tức của chủ sở hữu nếu lợi nhuận đạt đến một mức nhất định.” Công nghệ Blockchain 2.0 đang tiến xa hơn các hoạt động liên quan đến giao dịch và “”trao đổi giá trị không cần đến các trung gian mạnh mẽ làm trọng tài về tiền bạc và thông tin”. Chúng được hy vọng sẽ cho phép những người bị khai trừ có thể tham gia vào kinh tế toàn cầu, bảo mật an ninh và mọi người có thể “tiền tệ hóa thông tin của họ”, cung cấp khả năng đảm bảo cho những người tạo ra được tưởng thưởng xứng đáng cho những đóng góp trí tuệ của họ. Công nghệ Blockchain thế hệ thứ hai tạo ra khả năng lưu trữ “ID kỹ thuật số cố định và persona” của mỗi cá nhân và đang cung cấp một phương pháp tiếp cận giải quyết vấn đề “bất bình đẳng xã hội” bằng việc “[có khả năng thay đổi] cách phân bổ tài sản”. Tính đến năm 2016, việc triển khai Blockchain 2.0 bắt buộc phải có một off-chain oracle để truy cập đến bất kì “thông tin nội bộ hay các sự kiện dựa trên các mốc thời gian hoặc tình trạng thị trường [cần] tương tác với Blockchain.”
Vào năm 2016, Trung tâm lưu ký chứng khoán (NSD) của Liên Bang Nga đã thông báo về một dự án thí điểm dựa trên nền tảng Nxt Blockchain 2.0 sẽ tìm ra cách sử dụng hệ thống bỏ phiếu tự động trên Blockchain. Các cơ quan quản lý khác nhau trong ngành công nghiệp âm nhạc vừa bắt đầu thử nghiệm mẫu sử dụng công nghệ Blockchain để thu phí và quản lý bản quyền trên toàn cầu. IBM đã mở một trung tâm nghiên cứu cải tiến Blockchain tại Singapore vào tháng 7.2016. Một đội ngũ làm việc cho Cộng đồng kinh tế thế giới (World Economic Forum) đã gặp gỡ vào tháng 11.2016 để thảo luận về sự phát triển của các mô hình quản trị có liên quan đến Blockchain. Theo Accenture, một ứng dụng của khả năng truyền tin của lý thuyết đổi mới đã nói rằng trong năm 2016 các Blockchain sẽ đạt được 13.5% tỉ lệ tiếp nhận trong các dịch vụ tài chính, dẫn đến giai đoạn chấp nhận sớm. Vào năm 2016, các tổ chức giao dịch trong ngành công nghiệp đã cũng tham gia thành lập Cộng đồng Blockchain toàn cầu (Global Blockchain Forum), cũng chính là sự khởi đầu của Phòng thương mại Kỹ thuật số (Chamber of Digital Commerce).
Vào đầu năm 2017, tạp chí kinh doanh Harvard nói rằng Blockchain là một công nghệ nền tảng, do vậy nó có “tiềm năng tạo ra nền móng cho nền kinh tê và hệ thống xã hội.” Tiếp tục quan sát có thể thấy rằng mặc dù các sáng kiến nền móng có thể có tác động rất lớn nhưng không thể thay đổi sự thật rằng “phải mất nhiều thập kỷ để Blockchain xâm nhập vào cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội của chúng ta.”

Mô Tả

Mạng lưới Bitcoin

Một Blockhain tạo điển kiện bảo vệ cho các giao dịch trực tuyến. Blockchain là một sổ cái kỹ thuật số phân quyền và phân phối có thể ghi nhận các giao dịch giữa nhiều máy tính theo cách mà các giao dịch được đăng kí không thể bị thay đổi. Điều này cho phép người tham gia xác nhận và thanh toán giao dịch theo cách không hề đắt đỏ. Chúng được chứng thực bởi số lượng cộng tác vô cùng lớn vì lợi ích tập thể. Kết quả là một quy trình thực hiện mạnh mẽ, nơi sự không chắc chắn của người tham gia về bảo mật dữ liệu là không đáng kể. Việc sử dụng Blockchain loại bỏ những đặc tính tái tạo vô hạn của tiền tệ kỹ thuật số. Xác nhận rằng mỗi một đơn vị giá trị được chuyển giao duy nhất một lần, giải quyết vấn đề double-spending đã tồn tại từ lâu. Blockchain đã và đang được mô tả là một giao thức trao đổi giá trị. Các giao dịch giá trị trên Blockchain có thể được hoàn thành nhanh chóng hơn, an toàn và rẻ hơn so với các hệ thống truyền thống. Một blockchain có thể gán các quyền vì nó cung cấp một bản ghi bắt buộc phải cung cấp và chấp nhận. Từ góc nhìn kỹ thuật, Blockchain là một chuỗi hash (hashchain) bên trong một hashchain khác.

Một cơ sở dữ liệu Blockchain bao gồm hai loại hồ sơ (record): giao dịch và block. Các block lưu giữ hàng loạt những giao dịch hợp lệ được hash và mã hòa vào cây Merkle (Merkle tree). Mỗi Block bao gồm hash của block trước đó trong Blockchain, liên kết hai block với nhau. Các biến thể của định dạng này đã được sử dụng gần đây, ví dụ như Git, nhưng bản thân nó không đủ điểu kiện để được coi là Blockchain. Các Block được liên kết định hình nên chuỗi (chain). Quá trình lặp này xác nhận sự rõ ràng của block trước đó, Tất cả các block đều liên kết trở lại block nguồn gốc ban đầu. Một vài Blockchain tạo ra Block mới thường xuyên sau mỗi 5 giây. Tuổi của Blockchain được cho là phát triển theo độ cao của Block.
Thỉnh thoảng các Block phân tách có thể được xác nhận đồng thời, tạo ra fork tạm thời. Thêm vào đó để có hash an toàn, mỗi Blockchain đều có một thuật toán đặc biệt để ghi nhận lại các phiên bản khác nhau của lịch sử để một đơn vị với giá trị cao hơn có thể được lựa chọn. Các Block không chọn việc đưa vào chuỗi gọi là block mồ côi. Sự ngang hàng (peer) hỗ trợ cơ sở dữ liệu không có chính xác phiên bản giống nhau của lịch sử tại mọi thời điểm, do đó chúng giữ phiên bản lưu trữ nhiều nhất của cơ sở dữ liệu ngay tại lúc đó mà chúng biết được. Một khi peer nhận được phiên bản ghi nhận với thông tin nhiều hơn (thông thường là bản cũ với một block mới được bổ sung), chúng sẽ mở rộng hoặc chép đè lên dữ liệu cũ và truyền lại việc cải thiện này cho các peer. Không bao giờ một có sự đảm bảo hoàn toàn rằng mỗi một entry sẽ mãi mãi duy trì phiên bản tốt nhất của lịch sử, nhưng vì các Blockchain thường được xây dựng để bổ sung điểm của Block mới vào Block cũ và có rất nhiều ưu đãi cho biệc mở rộng block mới hơn là ghi đè lên block cũ, nên xác suất để một entry bị thay thế đã giảm xuống rất nhanh khi ngày càng có nhiều block được xây dựng trên đầu, cuối cùng tỉ lệ chỉ còn rất thấp. Ví dụ, trong một Blockchain sử dụng hệ thống proof-of-work, chuỗi với proof of work tích lũy nhiều nhất luôn được hệ thống cân nhắc trở thành có giá trị. Trong thực tế có rất nhiều phương pháp có thể giải thích mức độ tính toán hiệu quả. Trong một blockchain, việc tính toán được thực hiện nhiều và dư thừa hơn là theo cách tách biệt truyền thống và song song.
Blockchain được phân tích bởi phần mềm để trích xuất các thông tin liên quan.

1. Sự phân quyền (Decentralization)

Bằng cách lưu trữ thông tin trong mạng lưới của mình, Blockchain loại bỏ những nguy cơ có thể xảy ra khi dữ liệu được lưu giữ tập trung. Các Blockchain phân quyền có thể sử dụng việc truyển thông điệp ad-hoc (ad-hoc message passing) và mạng lưới phân phối (distributed networking). Network này thiếu các điểm tập trung (centralized point) của nhược điểm mà các hacker máy tính có thể tìm ra hay bất cứ một điểm thất bại tập trung nào (central point of failure). Các phương pháp an ninh Blockchain bao gồm việc sử dụng key mã hóa công cộng (public key cryptography). Một key công cộng (public key) bao gồm một dãy số dài ngẫu nhiên, là một địa chỉ trên Blockchain. Các token giá trị gửi trong network được ghi lại là thuộc về địa chỉ đó. Key cá nhân (private key) giống như mật khẩu giúp chủ sở hữu có thể truy cập vào tài sản số của mình hoặc ngược lại, tương tác với các khả năng khác nhau mà Blockchain hiện tại đang hỗ trợ. Dữ liệu được lưu trong Blockchain thông thường sẽ không bị hư hỏng.
Mỗi node hay miner trong hệ thống phân quyền có một bản sao của Blockchain. Chất lượng dữ liệu được duy trì bởi việc sao lưu cơ sở dữ liệu khổng lồ và sự tin tưởng trong tính toán. Không có một bản sao trung tâm “trực tiếp” nào tồn tại và không có người dùng nào được “tin tưởng” hơn những người còn lại. Các giao dịch được truyền đến network bằng cách sử dụng phần mềm. Các node mining xác thực giao dịch, bổ sung chúng vào block đang được tạo thành, sau đó chuyển đến block hoàn thiện cho node khác. Blockchain sử dụng rất nhiều chương trình time-stamping khác nhau, như proof of work để sắp đặt tuần tự các thay đổi. Các phương pháp đồng thuận thay thế bao gồm proof-of-stake và proof-of-burn. Sự phát trển của blockchain phân quyền đi kèm với những rủi ro của sự tập trung các node vì nguồn tnguyên máy tính cần thiết để vận hành dữ liệu lớn hơn sẽ trở nên đắt hơn.

2. Forks

Nếu hai nhóm người dùng bất đồng về một đề xuất thay đổi nào đó về giao thức Blockchain công cộng (không được cấp phép) hoặc về thuật toán, họ có quyền tách ra và vận hành phiên bản phần mềm Blockchain của riêng mình, điều đó sẽ tạo ra hai Blockchain “hậu duệ” với lịch sử gốc là từ một điểm.
Có hai loại fork: Soft fork và Hard fork.

2.1. Soft fork

Soft fork mang ý nghĩa tương thích về phía trước, nghĩa là các node chạy phần mềm chỉ thực hiện các quy định đồng thuận (consensus rule) cũ sẽ cân nhắc về các block được đào bởi các miner sử dụng xác nhận quy định đồng thuận mới, trong khi các node cho phép quy định đồng thuận mới không cần thiết cân nhắc về block được đào bởi các miner chỉ thực hiện xác nhận theo quy định đồng thuận cũ. Như một trường hợp, quy định đồng thuận được mở rộng và tập hợp các block được cân nhắc xác nhận bằng các node thực hiện quy định đồng thuận mới hơn, do đó sự thật đây chính là các tập hợp con của các block được cân nhắc xác nhận bằng quy định đồng thuận bởi các node chỉ thực hiện quy định cũ hơn.

2.2. Hard fork

Hard fork không phải tương thích về phía trước, có nghĩa rằng các node chạy phần mềm thực hiện quy định đồng thuận cũ không cần cân nhắc các block được đào mới các miner sử dụng xác nhận quy định đồng thuận mới và ngược lại. Điều này gây ra việc phân tách vĩnh viễn trên Blockchain.
Ví dụ, Ethereum có rất nhiều lần hard fork. Hard fork đầu tiên của Ethereum là một ad-hoc fork nhằm làm cho toàn bộ các nhà đầu tư vào trong DAO, thứ đã bị hack bằng việc khai thác lỗ hổng trong mã của nó.
Vào năm 2014, cộng đồng Nxt được yêu cầu cân nhắc về hard fork có khả năng dẫn tới rollback (thao tác lùi cơ sở dữ liệu về một trạng thái cũ) của các hồ sơ Blockchain nhằm giảm bớt ảnh hưởng của vụ trộm 50 triệu NXT từ một sàn giao dịch cryptocurrency lớn. Đề án hard fork bị từ chối, và phần lớn quỹ đã hồi phục sau nhiều cuộc đàm phán.

3. Sự cởi mở (Openness)

Blockchain mở thân thiện với người dùng hơn nhiều hồ sơ truyền thống, trong khi mở cửa với cộng đồng, vẫn yêu cầu các hoạt động truy cập vật lý để xem. Vì tất cả các Blockchain đều không cần sự cho phép, các tranh cãi đã tăng xung quanh vấn đề định nghĩa Blockchain. Một vấn đề đang trong tranh cãi là liệu hệ thống an ninh với việc người xác nhận có nên được chỉ định và cho phép bởi các cơ quan trung tâm hay không nên được cân nhắc. Những người ủng hộ các chuỗi được cho phép và riêng tư cho rằng thuật ngữ “Blockchain” nên được áp dụng đối với bất cứ cấu trúc nào dồn dữ liệu vào từng block với dấu xác nhận thời gian. Những Blockchain này phục vụ như là phiên bản phân phối của phương pháp đa điều khiển cạnh tranh ( multiversion concurrency control – MVCC) trong các cơ sở dữ liệu. Cũng như MVXX ngăn cản hai giao dịch khỏi việc cạnh tranh sửa đổi một cá thể đơn trong cơ sở dữ liệu, các Blockchain ngăn chặn hai giao dịch khỏi việc có cùng một đầu ra (output) trong Blockchain. Các đối thủ nói rằng những hệ thống được phép giống như các cơ sở dữ liệu doanh nghiệp truyền thống, chứ không phải là ủng hộ việc xác nhận dữ liệu phân quyền, và những hệ thống như vậy không ngăn cản được sự giả mạo của các nhà điều hành. Tạp chí kinh doanh Harvard (Harvard Business Review) mô tả Blockchain là một sô cái phân phối (distributed ledger) hay là cơ sở dữ liệu mở cho tất cả mọi người. Năm 2016, Nikolai Hampton của tờ Computerworld đã cho rằng “việc cường điệu blockchain được cho phép không khác gì đồ dỏm.”

3.1. Không cần cho phép (Permissionless)

Ưu điểm tuyệt vời cho mạng lưới Blockchain mở, công cộng và không cần sự cho phép chính là việc bảo vệ khỏi các tác nhân xấu là không bắt buộc và không có quyền kiểm soát truy cập nào cần thiết. Điều này có nghĩa các ứng dụng có thể được bổ sung vào mạng lưới mà không cần sự chấp nhận hay sự tin tưởng từ những người khác, sử dụng Blockchain như là một tầng giao vận (transport layer).
Bitcoin và các loại cryptocurrency khác hiện tại bảo vệ Blockchain của mình bằng việc chấp nhận các entry mới bao gồm proof of work. Để kéo dài Blockchain, Bitcoin sử dụng câu đố Hashcash được phát triển bởi Adam Back vào những năm 1990.
Các công ty tài chính không ưu tiên cho các Blockchain phân quyền. Vào năm 2016, những dự án đầu tư mạo hiểm trên Blockchain đã giảm dần ở Mỹ nhưng lại tăng ở Trung Quốc. Bitcoin và các loại cryptocurrency khác sử dụng các Blockchain mở (công cộng). Đến tháng 9.2016, Bitcoin đã có số vốn hóa lớn nhất trên thị trường.
 

3.2. Blockchain được cấp phép (cá nhân)

Các Blockchain cần được phép đang nổi lên như là những giao thức nguồn mở nơi việc hợp tác và sự cởi mở được khuyến khích. Những người này luôn có khả năng giới hạn những cá nhân có thể tham gia vào tiến trình đồng thuận và ai có thể giao dịch. Những Blockchain riêng tư như vậy thiếu tính minh bạch, rõ ràng.
Tờ New York Times đã viết vào năm 2016 và 2017 rằng có rất nhiều công ty sử dụng mạng lưới Blockchain “với blockchain riêng tư, độc lập với hệ thống công cộng.”
Ngược lại với mạng lưới Blockchain công cộng, các trình xác nhận trên các mạng Blockchain riêng được chủ sở hữu mạng kiểm tra. Họ không phụ thuộc vào các node vô danh để xác nhận giao dịch cũng như không được lợi từ hiệu quả mạng lưới.
 

3.3. Nhược điểm

Nikolai Hampton đã chỉ ra trên tờ Computerworld rằng: “”Cũng không cần phải có một cuộc tấn công ‘51%’ vào một Blockchain riêng tư, khi dường như các Blockchain riêng này kiểm soát 100% nguồn lực cho việc tạo thành tất cả các Block. Nếu bạn có thể tấn công hay phá hủy các công cụ tạo thành Blockchain trên một máy chủ riêng biệt, bạn sẽ có thể kiểm soát 100% mạng lưới của họ và thay đổi các giao dịch theo bất cứ các nào bạn muốn. Điều này có một loạt các tác động bất lợi sâu sắc đặc biệt trong cuộc khủng hoảng tài chính hoặc khủng hoảng nợ như cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008, khi các tổ chức chính trị quyền lực có thể ra quyết định ủng hộ một số nhóm với chi phí của những nhóm còn lại. Và các Blockchain của Bitcoin được bảo vệ bởi nỗ lực khổng lồ từ đội ngũ mining. Điều này không giống như bất cứ một Blockchain riêng tư nào sẽ cố gắng bảo vệ hồ sợ bằng việc sử dụng gigawatt của năng lượng máy tính – tốn thời gian và đắt đỏ. Ông cũng nói “Trong một Blockchain riêng tư cũng không có “race” (cuộc đua); Không có cách nào để khuyến khích sử dụng nhiều năng lượng hay khám phá các block nhanh hơn là những người cạnh tranh với nhau. Điều này có nghĩa rất nhiều giải pháp Blockchain nội bộ sẽ chỉ là những cơ sở dữ liệu ngày càng cồng kềnh.”

4. Các ứng dụng

Công nghệ Blockchain có tiềm năng to lớn để định hình các mô hình hoạt động  kinh doanh trong thời gian dài. Công nghệ sổ cái phân phối Blockchain là công nghệ nền tảng – với tiềm năng tạo ra những nền móng mới cho kinh tế toàn cầu và hệ thống xã hội – hơn là một công nghệ đột phá thường “tấn công vào mô hình kinh doanh truyền thống với giải pháp giá rẻ và vượt qua các công ty đương nhiệm nhanh chóng”. Ngay cả như vậy, cũng có số ít sản phẩm vận hành được sản xuất từ proof of concept vào cuối năm 2016. Việc sử dụng Blockchain hứa hẹn mang lại hiệu quả to lớn đối với chuỗi cung cứng toàn cầu, các giao dịch tài chính, sổ cái tài sản và mạng lưới phân quyền xã hội.
Đến năm 2016, vài người quan sát vẫn duy trì sự hoài nghi. Steve Wilson của Constellation Research tin rằng công nghệ đã và đang thổi phồng những yêu cầu không thực tế. Để giảm bớt rủi ro thì các nhà kinh doanh đang lưỡng lự về việc đặt Blockchain trở thành cốt lõi trong cấu trúc kinh doanh.
Công nghệ Blockchain có thể được tích hợp vào rất nhiều phương diện. Điều này có nghĩa các ứng dụng Blockchain đặc biệt có thể là sự cải tiến gây chia rẽ, vì các giải pháp chi phí thấp có thể được thực thể hóa có khả năng gây ra những vụ phân tách những mô hình kinh doanh đang tồn tại. Các giao thức Blockchain tạo điều kiện cho các doanh nhân sử dụng phương pháp mới để tiến trình hóa các giao dịch kỹ thuật số. Các ví dụ bao gồm hệ thống thanh toán và tiền tệ số, tạo điều kiện cho Crowdsales hoặc thực hiện các thị trường tiên đoán (Prediction market) và cái công cụ quản trị chung. Blockchain được kỳ vọng sẽ phân chia ngành công nghiệp điện toán đám mây (cloud computing industry) mặc dù các vấn đề kỹ thuật thực tiễn vẫn là trở ngại.

Các Blockchain có thể được xem như là sổ cái công chứng tự động. Chúng giảm bớt sự cần thiết của những nhà cung cấp dịch vụ tin cậy và được dự đoán sẽ mang lại kết quả là sẽ có ít nguồn vốn bị ràng buộc trong tranh chấp. Blockchain có tiềm năng giảm rủi ro hệ thống và gian lận tài chính. Chúng tự động thực hiện tiến trình trước đây phải thực hiện thủ công và tốn thời gian. Theo lý thuyết, có thể thực hiện được việc thu thuế, chuyển nhượng và cung cấp các công cụ quản trị rủi ro với Blockchain.
Các ứng dụng to lớn của Blockchain gồm cryptocurrency (Bitcoin, Blackcoin, Dash, Nxt) và các nền tảng Blockchain như Factom là một registry phân bổ, Gems là ứng dụng tin nhắn phân quyền, Maidsafe là ứng dụng phân quyền, Storj là cloud phân quyền, Tezos là ứng dụng bỏ phiếu phân quyền. Mỗi Cryptocurrency có một đặc tính và đặc thù riêng. Các khung công tác và các thử nghiệm như tại Cơ quan Đăng kiểm Đất đai Thu Sweden Điển nhằm mục đích chứng minh tính hiệu quả của việc ngăn chặn việc đẩy mạnh các giao dịch bán đất. Cộng hòa Georgia đang thí điểm đăng ký sở hữu dựa trên Blockchain. [73] Hiệp hội các nhà sáng tạo về đạo đức và hội chợ sử dụng Blockchain để giúp đỡ những người mới bắt đầu bảo vệ những ý tưởng đích thực của họ.
Các phương pháp phân phối mới đã có trong ngành bảo hiểm như bảo hiểm ngang hàng, bảo hiểm theo tham số và bảo hiểm vi mô với sự hỗ trợ từ Blockchain. Các ngân hàng đang cảm thấy hứng thú với công nghệ này vì nó có tiềm năng tăng tốc cho các hệ thống giải quyết các vấn đề nội bộ. Nền kinh tế chia sẻ (sharing economy) và IoT (Internet of things) cũng được thiết lập nhằm mang lại lợi ích từ Blockchain vì chúng liên quan đến rất nhiều bên hợp tác ngang hàng. Bỏ phiếu trực tuyến là một ứng dụng khác của Blockchain. Blockchain đang được sử dụng để phát triển hệ thống thông tin cho hồ sơ bệnh án, làm tăng khả năng tương tác. Theo lý thuyết, các hệ thống khác biệt mang tính chất kế thừa có thể được thay thế hoàn toàn bằng các Blockchain. Blockchains đang được phát triển để lưu trữ dữ liệu, xuất bản văn bản và xác định nguồn gốc của nghệ thuật kỹ thuật số.
Các ngân hàng như UBS đang mở các phòng thí nghiệm nghiên cứu mới dành riêng cho Blockchain nhằm mục đích tìm hiểu xem Blockchain có thể được sử dụng như thế nào trong các dịch vụ tài chính để tăng tính hiệu quả và giảm chi phí.

4.1. The Big Four

Mỗi công ty kế toán trong Big Four đều đang thử nghiệm công nghệ Blockchain với rất nhiều định dạng. Ernst and Young vừa cung cấp ví điện tử cho tất cả nhân viên (Thụy Sỹ), lắp đặt ATM Bitcoin trong văn phòng tại Thụy Sỹ và chấp nhận thanh toán Bitcoin cho tất cả các dịch vụ kế toán. Marcel Stalder, CEO của Ernst and Young Switzerland nhấn mạnh: “Chúng tôi không chỉ muốn nói về quá trình số hóa mà còn thực hiện tiến trình này đối với nhân viên và khách hàng của chúng tôi. Điều quan trọng là mọi người sẵn sàng và tự chuẩn bị cho cuộc cải cách diễn ra trong thế giới kinh doanh thông qua Blockchain, Smart contract và tiền tệ kỹ thuật số.” PwC, Deloitte, và KPMG đã đi theo hướng khác với Ernst and Young và tất cả đều đang thử nghiệm Blockchain riêng biệt.

4.2. Smart contract

Smart contract trên Blockchain là các contract (hợp đồng) được thực hiện hay thi hành một phần hay toàn bộ mà không có sự tương tác của con người. Một trong những mục đích của Smart contract là ký quỹ tự động. IMF tin rằng Blockchain có thể giảm những nguy cơ về đạo đức và tối ưu hóa việc sử dụng các contract nói chung. Do thiếu sự sử dụng rộng rãi nên tình trạng pháp lý của chúng không được rõ ràng.
Một số triển khai Blockchain có thể cho phép mã hoá contract sẽ thực hiện khi điều kiện cụ thể được đáp ứng. Một smart contract sẽ được kích hoạt bằng các hướng dẫn lập trình mở rộng xác định và thực hiện một thỏa thuận. Ví dụ, Ethereum Solidity là một dự án Blockchain nguồn mở được xây dựng đặc biệt để nhận ra khả năng này bằng cách sử dụng một khả năng ngôn ngữ lập trình đầy đủ của Turing để thực hiện các contract như vậy.
Báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới vào tháng 1.2017 dự đoán đến năm 2025, 10% GDP toàn cầu sẽ được lưu trữ trên các Blockchain hoặc công nghệ liên quan tới Blockchain.

5. Các Blockchain thay thế

Các Blockchain thay thế, còn được gọi là altchains, dựa trên công nghệ Bitcoin theo khái niệm và/hoặc mã. Thuật ngữ bao gồm tất cả các blockchain nhưng không có chuỗi chính của Bitcoin. So với Bitcoin, những thiết kế này thường bổ sung chức năng cho thiết kế Blockchain. Các altchain có thể cung cấp các giải pháp, bao gồm cả các tiền tệ kỹ thuật số khác, mặc dù các thẻ trong các thiết kế này không phải lúc nào cũng được coi là như vậy. Altchains tập trung vào hiệu suất, khả năng ẩn danh, lưu trữ và các ứng dụng như smart contract. Bắt đầu với việc tập trung mạnh vào các ứng dụng tài chính, công nghệ Blockchain đang mở rộng đến các hoạt động bao gồm các ứng dụng phân tán và các tổ chức hợp tác nhằm loại bỏ người trung gian.
Những thiết kế không phải cryptocurrency đáng chú ý bao gồm :
  • LaZooz – chia sẻ thời gian thực phân quyền
  • Swarm và Koinify – Crownfunding phân quyền
  • Synereo – truyền thông đồng bộ và không đồng bộ
  • Gem – Nền tảng Blockchain cho ngành chăm sóc sức khoẻ và chuỗi cung ứng
  • Steemit – kết hợp một trang web viết blog/trang web mạng xã hội và một cryptocurrency
  • DECENT Nền tảng phân phối nội dung mạng
  • Hyperledger – nỗ lực cộng tác xuyên biên giới ngành từ Linux Foundation nhằm hỗ trợ các sổ cái phân phối dựa trên Blockchain.
  • Counterparty – nền tảng tài chính mã nguồn mở để tạo ra các ứng dụng tài chính peer-to-peer trên Blockchain Bitcoin.
    Bitcache
  • Bitnation là quốc gia đầu tiên trên thế giới hoạt động tự do phi tập trung tự nguyện trên nền tảng Blockchain.
    Blockchain riêng tư có khả năng cho phép định số tối thiểu của JPMorgan Chase
    với các cửa hàng tư nhân cho các smart contract.
  • Ethereum là một Blockchain, với một ngôn ngữ kịch bản đầy đủ của Turing cho phép xử lý các smart contract trên Blockchain.
  • Aeternity đang được phát triển như Blockchain duy nhất có thể duy trì thông lượng cho các trường hợp sử dụng chính trên thế giới nhờ vào các kênh của bang bởi thiết kế cốt lõi của nó, đồng thời cung cấp các giao diện thực trong Blockchain của nó thông qua Decentralised Oracles.
6. Blockchain và hệ thống sổ cái phân phối
Đơn giản, Blockchain là mạng lưới ngang hàng peer to peer ghi nhận thời gian giao dịch bằng việc hash các hồ sơ vào bên trong chuỗi đang hoạt động của proof of work, định hình hồ sơ không thể bị thay đổi mà không thực hiện lại quá trình proof of work. Mặt khác, sổ cái phân phối là mạng lưới ngang hàng peer to peer sử dụng cơ chế đồng thuận để ngăn chặn những sửa đổi của các hồ sơ lưu trữ được ghi nhận theo mốc thời gian. Tất cả các Blockchain là sổ cái phân phối, nhưng không phải mọi sổ cái phân phối đều là Blockchain.
Một số hệ thống sổ cái phân phối của Blockchain: BigchainDB, Chain, Corda, Credits, Elements, Monax, Fabric, Ethereum, HydraChain, Hyperledger, Multichain, Openchain, Quorum, Sawtooth, Stellar.

7. Cách sử dụng khác

Công nghệ Blockchain có thể được sử dụng để tạo ra hệ thống sổ cái công cộng, minh bạch và lâu dài để biên soạn dữ liệu về bán hàng, lưu trữ dữ liệu bằng cách xác thực đăng ký bản quyền, và theo dõi việc sử dụng và thanh toán cho người sáng tạo nội dung, chẳng hạn như nhạc sĩ. Bằng cách phát triển công nghệ Blockchain với sự cộng tác của ASCAP và PRS for Music, IBM sẽ mở ra giá trị cho lợi ích của các nhà sáng tạo âm nhạc trên toàn thế giới. Dịch vụ Mycelia của Imogen Heap, cho phép các nhà quản lý sử dụng một Blockchain để theo dõi các bộ phận có giá trị cao đi qua một chuỗi cung ứng, đã được đưa ra như là một khái niệm vào tháng 7.2016. Everledger, “hệ thống xây dựng để ghi lại sự di chuyển của kim cương từ các mỏ đến các cửa hàng đồ trang sức”, là một trong những khách hàng đầu tiên của dịch vụ theo dõi dựa trên Blockchain của IBM.
CLS Group đang sử dụng công nghệ Blockchain để mở rộng số lượng các giao dịch tiền tệ có thể giải quyết. NETL hiện đang (tháng 12.2016) nghiên cứu việc sử dụng công nghệ Blockchain như một công cụ an ninh mạng để duy trì sự vững mạnh của các hệ thống năng lượng tích hợp trong tương lai.

7.1. Hoạt động chào bán thương mại

Các sổ cái phân phối và các phần mềm lấy cảm hứng từ Blockchain khác đang được các tổ chức thương mại phát triển dành cho các ứng dụng khác nhau:
  • Deloitte và ConsenSys đã công bố kế hoạch vào năm 2016 để thành lập một ngân hàng số gọi là Dự án ConsenSys.
  • R3 kết nối 42 ngân hàng với sổ cái phân phối được xây dựng bởi Ethereum, Chain.com, Intel, IBM và Monax.
  • Microsoft Visual Studio đang làm cho ngôn ngữ Ethereum Solidity dành cho các nhà phát triển ứng dụng.
  •  Bảo hiểm SafeShare cung cấp bảo hiểm dựa trên Blockchain cho nền kinh tế chia sẻ, được bảo hiểm bởi Lloyd’s of London.
  •  Một hiệp hội công nghiệp Thụy Sĩ, bao gồm Swisscom, Ngân hàng Cantonal Zurich và sàn giao dịch chứng khoán Thụy Sỹ, đang chuẩn bị cho việc kinh doanh tài sản trên quầy hàng trên công nghệ Ethereum dựa trên Blockchain.
  • Context Labs, một công ty phát triển Blockchain kích hoạt nền tảng.
  • Digital Asset Holdings, dẫn đầu bởi CEO Blythe MasterS
  • Ngành công nghiệp Citi Satoshi
  • Chào hàng của IBM được công bố vào ngày 20 tháng 3 năm 2017
  • Disney’s Dragonchain
Vào tháng 8 năm 2016, một nhóm nghiên cứu tại Đại học Kỹ thuật Munich đã xuất bản một tài liệu nghiên cứu về cách các Blockchain có thể làm phân chia ngành công nghiệp. Họ đã phân tích quỹ đầu tư mạo hiểm vào các dự án mạo hiểm. Nghiên cứu của họ cho thấy, 1,55 tỷ USD đã bắt đầu với các ngành công nghiệp tập trung vào tài chính và bảo hiểm, thông tin và truyền thông, và các dịch vụ chuyên nghiệp. Mật độ khởi động cao đã được tìm thấy ở Mỹ, Anh và Canada.
ABN Amro đã công bố một dự án bất động sản nhằm tạo thuận lợi cho việc chia sẻ và ghi lại các giao dịch bất động sản và một dự án thứ hai phối hợp với Port of Rotterdam để phát triển các công cụ hậu cần.

Các loại tiền tệ quốc gia

E-Dinar là tiền tệ quốc gia Tunisia, tiền tệ của quốc gia đầu tiên sử dụng công nghệ Blockchain trên thế giới.
ECFA là đồng tiền điện tử quốc gia của Senegal dựa trên Blockchain.

Nghiên cứu học thuật

Vào tháng 9.2015, Ledger, tạp chí chuyên ngành đầu tiên nghiên cứu về cryptocurrency công nghệ Blockchain đã được công bố. Vấn đề thành lập đã được xuất bản vào tháng 12.2016. Tạp chí bao gồm các khía cạnh của toán học, khoa học máy tính, kỹ thuật, luật, kinh tế và triết học có liên quan đến cryptocurrency như Bitcoin.
Tạp chí khuyến khích các tác giả đăng ký số hóa tập tin hash của các bài viết, sau đó sẽ được đánh dấu thời gian vào Blockchain Bitcoin. Các tác giả cũng được yêu cầu đưa vào một địa chỉ Bitcoin cá nhân trong trang đầu tiên bài báo của họ.

Các dự án


Các tổ chức phi lợi nhuận

Dự án Level One của Bill & Melinda Gates Foundation nhằm mục đích sử dụng công nghệ Blockchain để giúp hai tỷ người trên toàn thế giới thiếu tài khoản ngân hàng.
Dự án Buiding Blocks từ Chương trình Thực phẩm Thế giới của Vương quốc Anh nhằm mục đích làm cho các hoạt động chuyển tiền mặt ngày càng tăng của WFP nhanh hơn, rẻ hơn và an toàn hơn. “Building Blocks” đã khởi đầu với quá trình đầu tư thí diểm ở Pakistan vào tháng 1 năm 2017 và sẽ tiếp tục trong suốt mùa xuân.


Các mạng lưới phân quyền

Bitnation là quốc gia đầu tiên trên thế giới hoạt động tự do phi tập trung tự nguyện trên nền tảng Blockchain.
DAO (tổ chức) là một tổ chức phân quyền tự trị kỹ thuật số và một hình thức quỹ đầu tư mạo hiểm do nhà đầu tư điều hành.
Dự án Backfeed phát triển một hệ thống quản lý phân phối cho các ứng dụng dựa trên Blockchain cho phép tạo ra và phân phối hợp tác giá trị trong các mạng lưới đồng đẳng tự phát.
Dự án Alexandria là một thư viện phân quyền dựa trên Blockchain.

Tezos là một dự án Blockchain tự quản trị bằng cách bỏ phiếu của chủ sở hữu token của nó. Bitcoin Blockchain thực hiện như một hệ thống cryptocurrency và thanh toán. Ethereum Blockchain thêm vào hệ thống smart contract trên đầu của Blockchain Bitcoin. Tezos Blockchain sẽ bổ sung một hệ thống tự trị – một mã phân quyền chức năng phát triển trên cả Bitcoin và Ethereum Blockchain.Tia – tiendientu.org

Wiki – 31.5.2017
Urunit

Từ khóa: Blockchain, distributed database, peer-to-peer, Stuart Haber