Tìm hiểu Blockchain là gì? Tại sao tương lai của loài người nằm ở Blockchain?

 Công nghệ Blockchain, hay công nghệ chuỗi khối, là cụm từ bắt đầu xuất hiện dày đặc trên các phương tiện truyền thông những năm trở lại đây. Chúng ta nói về cách mạng công nghệ 4.0, tương lai của loài người, và những thứ đó luôn có bóng dáng của Blockchain. Vậy thực sự Blockchain là gì? Và có quá không khi nói nó sẽ là tương lai của thế giới chúng ta?


1. Tìm hiểu Blockchain là gì

Lần đầu tiên, người dùng Internet có thể chuyển một tài sản được mã hóa sang người dùng Internet khác. Trong công nghệ Blockchain, các giao dịch được đảm bảo an toàn và an ninh. Mọi người đều có thể biết giao dịch đó diễn ra ở đâu với ai hay loại tài sản nào, nhưng không thay đổi được thông tin trên giao dịch. Đây là một ứng dụng mang tính đột phá trong thời đại công nghệ mới.”

– Marc Andreessen

Thực vậy, công nghệ Blockchain thật sự khác biệt so với các loại công nghệ khác mà chúng ta đã biết, công nghệ serve-client (chủ – khách). Trong bài hướng dẫn này, chúng ta sẽ lấy mô hình mạng chủ – khách của Wikipedia làm ví dụ để phân tích.

Tại Wikipedia, người dùng có thể viết bài hay đóng góp ý kiến, không giới hạn số lượng, khu vực, dân tộc tôn giáo hay màu da của “tác giả”. Mặc dù, Wikipedia có nhiều “tác giả” từ khắp nơi trên thế giới nhưng không ai có quyền kiểm soát thông tin trên trang web này. Tất cả dữ liệu sẽ được lưu trữ ở một “máy chủ”. Còn đối với blockchain, người dùng có thể ghi dữ liệu (thông qua transaction) lên block, những thông tin này được lưu chung tại sổ cái. Chiếc sổ cái của blockchain cho phép người tham gia hệ thống có thể dùng chung thông tin.

tiendientu.org-blockchain-la-gi-3
Tìm hiểu Blockchain là gì.

Sổ cái của blockchain sử dụng mạng lưới peer-to-peer, có tính phân quyền. Mọi người đều có quyền ghi thông tin và sử dụng chúng. Tính phân quyền của blockchain làm cho các thông tin transaction trong network rõ ràng và minh bạch hơn.

Trong khi đó, tính phân quyền của Wikipedia dựa trên Word Wide Web sử dụng mạng lưới khách – chủ (client- server network). Người dùng (client) với tài khoản đã đăng ký trên Wikipedia có quyền viết mới hay chỉnh sửa nội dung bài viết. Tuy nhiên, tất cả “bản nháp” phải được lưu ở ‘siêu dữ liệu’ tại máy chủ, sau đó chúng phải được người quản lý ‘máy chủ’ duyệt trước khi ra phiên bản cập nhật cho người dùng.

Ngày nay, các tổ chức chính phủ, ngân hàng hay các công ty tài chính đều sử dụng cơ sở dữ liệu tập trung, Wikipedia cũng vậy. Bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu tập trung, người quản lý máy chủ Wikipedia có thể quản lý các bản cập nhật, kết nối và bảo vệ hệ thống chống lại những cuộc tấn công mạng. Tuy nhiên, công cuộc bảo vệ an ninh này thường mất rất nhiều chi phí. Các thông tin càng quan trọng, ngân sách cho an ninh thông tin càng cao.

Cơ sở dữ liệu phân tán chính là điểm khác biệt của blockchain. Đây cũng chính là đặc tính riêng biệt và quan trọng nhất của công nghệ Blockchain.

Trên Wikipedia, tất cả bản nháp sẽ được chỉnh sửa trên máy chủ, và tất cả người dùng chỉ có thể thấy 1 kết quả được cập nhật duy nhất. Đối với blockchain, mỗi node trong hệ thống sẽ đi đến cùng một kết luận, mỗi bản ghi cập nhật là độc lập, với bản ghi phổ biến nhất sẽ trở thành bản ghi chính thức trên sổ cái.

tiendientu.org-blockchain-la-gi-5
Công nghệ Blockchain.

Mỗi node có thể tạo bản ghi cập nhật và phát chúng vào hệ thống blockchain.

Đây là điều khác biệt làm cho công nghệ blockchain cực kỳ hữu ích. Nó là một cuộc cải cách trong việc ghi nhận và phân tán thông tin, loại trừ bên thứ 3 tin cậy, tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ kỹ thuật số.

Tuy nhiên, blockchain không còn là một dạng công nghệ mới khi các ứng dụng của nó đều có thành tích đáng kể. Công nghệ Blockchain là sự phối hợp của 3 nền tảng công nghệ (Internet, mật mã học private key – public key và giao thức tự vận hành). Chính công nghệ nền tảng này đã giúp cho ý tưởng Bitcoin của Satoshi Nakamoto thành công.

Ngày nay, công nghệ blockchain càng được vận dụng trong vô số lĩnh vực. Ngay cả với cryptocurrency, blockchain và tính phân quyền được xem là mục tiêu để hướng phát triển. Chẳng hạn như, trên thế giới đã có đủ nhiều sàn giao dịch tập trung tối ưu, hiệu quả, nhưng cộng đồng vẫn đồng lòng hướng đến tương lai là sàn giao dịch phi tập trung (DEX).

2. Sổ cái phân tán

Sổ cái, nền tảng của sổ tài khoản, cũng cổ xưa như chữ viết và tiền bạc.

Chất liệu của nó đã từng là đất sét, que gỗ (dễ gây cháy), đá, giấy papyrus và giấy ngày nay. Khi máy tính trở nên phổ biến vào những năm 80 và 90, các bản ghi giấy đã được số hóa, thường bằng cách nhập liệu thủ công.

Những sổ cái số hóa đời đầu này mô phỏng việc biên mục và kế toán theo thông tin trên giấy, và có thể nói rằng việc số hóa đã được áp dụng cho dịch vụ hậu cần của các văn bản giấy hơn là tạo ra nó. Các tổ chức sử dụng lưu trữ bằng giấy vẫn là xương sống của xã hội chúng ta: tiền bạc, con dấu, chữ ký, hóa đơn, chứng từ và sử dụng sổ sách kế toán kép.

tiendientu.org-blockchain-la-gi-2
Sổ cái phân tán là gì?

Sức mạnh tính toán và đột phá trong công nghệ mật mã, đi cùng với việc khám phá và sử dụng một số thuật toán mới và thú vị, đã cho phép tạo ra các sổ cái phân tán.

Ở dạng đơn giản nhất, một sổ cái phân tán là một cơ sở dữ liệu được tổ chức và cập nhật một cách độc lập bởi từng cá nhân tham gia (hay node) trong một mạng lớn. Sự phân phối này là độc nhất: các bản ghi không được truyền đến các node khác bởi cơ quan trung tâm, mà thay vào đó là được xây dựng độc lập và tổ chức bởi từng node. Nghĩa là, mỗi node trên mạng xử lý từng giao dịch, đưa ra kết luận của riêng mình và sau đó bỏ phiếu cho những kết luận này để chắc chắn rằng đa số đồng thuận với kết luận.

Khi đã đồng thuận, sổ cái phân tán sẽ được cập nhật, và tất cả các node đều lưu trữ bản sao của sổ cái. Cấu trúc này cho phép hệ thống ghi chép hoạt động linh hoạt vượt xa cơ sở dữ liệu đơn giản ban đầu.

Việc phát minh ra sổ cái phân tán đại diện cho một cuộc cách mạng trong cách thức thu nhận và truyền đạt thông tin. Nó áp dụng cho cả dữ liệu tĩnh (thông tin đăng ký) và dữ liệu động (thông tin giao dịch). Sổ cái phân tán cho phép người dùng vượt qua cơ sở dữ liệu đơn giản và chuyển hướng năng lượng sang cách chúng ta sử dụng, nắm giữ và trích xuất giá trị từ cơ sở dữ liệu – ít hơn trong việc duy trì cơ sở dữ liệu, nhưng nhiều hơn trong việc quản lý hệ thống lưu trữ.

3. Public Blockchain và Permissioned Blockchain

Bitcoin là ứng dụng tham vọng nhất của Blockchain. Bất cứ ai cũng có thể sử dụng các khóa mã hóa của Bitcoin, bất cứ ai cũng có thể trở thành một node và tham gia vào mạng lưới, và bất cứ ai cũng có thể trở thành một thợ đào để phục vụ cho mạng lưới và tìm kiếm phần thưởng. Các thợ đào có thể rời khỏi điểm node rồi quay lại nếu họ thấy thích hay họ có thể kích hoạt một tài khoản đầy đủ trong mạng lưới hoạt động của blockchain từ khi họ rời đi.

tiendientu.org-blockchain-la-gi-4
Public Blockchain và Permissioned Blockchain.

Về cơ bản, bất cứ ai cũng có thể đọc được chuỗi, bất kì ai cũng có thể thực hiện những thay đổi hợp lý và có thể viết thêm một khối mới vào chuỗi (miễn là họ tuân thủ theo quy tắc). Bitcoin có tính phân quyền và đặc điểm này cũng được mô tả như một bằng chứng kiểm duyệt Blockchain.

Vì những lý do trên, Bitcoin được biết đến là một public blockchain. Nhưng, đây không phải là cách duy nhất để xây dựng Blockchain.

Blockchain có thể được xây dựng bằng việc yêu cầu sự cho phép đọc thông tin trên blockchain, điều đó giới hạn các đối tượng có thể giao dịch trên blockchain và thết lập quyền truy cập mạng lưới.

Ví dụ, đồng cryptocurrencyRipple hoạt động như một permissioned blockchain. Công ty start-up này nắm quyền xác định ai có thể trở thành người xác nhận giao dịch trên mạng lưới. Đến nay, Ripple đã có CGI, MIT và Microsoft đảm nhiệm vai trò này bên cạnh các node thuộc quyền sở hữu của chính Ripple được phân phối ở khắp nơi trên thế giới.

Một nhà phát triển blockchain có thể tạo ra hệ thống dữ liệu có sẵn cho mọi người đọc, nhưng họ sẽ không có quyền cho phép bất cứ ai trở thành một điểm node, phục vụ an ninh mạng lưới, xác minh giao dịch hay khai thác. Đó là một tình huống kết hợp được phản ánh trong nhiều cách khác nhau mà các nhà doanh nghiệp đang thử nghiệm với công nghệ.

Với permissioned blockchain, điều này có thể hoặc không thể liên quan đến proof of work hoặc một số yêu cầu khác của hệ thống từ các node. Ví dụ, khi các doanh nghiệp sở hữu một private blockchain thì việc khai thác cho hệ thống không hiện hữu, các thông tin nội bộ chỉ đơn thuần là truy xuất dữ liệu từ sổ cái.

tiendientu.org-blockchain-la-gi-9
Tìm hiểu Blockchain là gì? Tại sao tương lai của loài người nằm ở Blockchain?
4. Tóm tắt

Blockchain là gì? Thông qua công nghệ Blockchain, người dùng có thể ghi dữ liệu giao dịch lên block, những thông tin này được lưu chung tại sổ cái. Chiếc sổ cái của blockchain cho phép người tham gia hệ thống có thể dùng chung thông tin.

Sổ cái phân tán của blockchaincơ sở dữ liệu được tổ chức và cập nhật một cách độc lập bởi từng cá nhân tham gia (hay node) trong một mạng lớn. Do đó, không ai có thể thay đổi dữ liệu trên sổ cái – vì không thể cùng lúc chỉnh sửa hàng nghìn, hàng triệu chiếc sổ cái được lưu trữ bởi tất cả các node trên toàn thế giới.

Public vs Permission Blockchain? Có nhiều cách xây dựng một blockchain. Blockchain công khai, mở với tất cả mọi người như BitcoinPublic Blockchain. Trong khi đó, Ripple là một Permissioned Blockchain.

Cập nhật tin tức mới nhất về blockchain và cryptocurrency tại Tiendientu.org