Tâm lý học đằng sau những hành vi sai lầm của loài người – Charlie Munger (kỳ 1)

Premium Post

 “Tâm lý học đằng sau những hành vi sai lầm của loài người – Charlie Munger” là chuỗi các bài viết của @S.A.F.E team trên Newslettervietnam. Thông qua chủ đề tâm lý học này, Tiendientu.org hy vọng những nhà đầu tư cá nhân của thị trường tiền mã hóa sẽ hiểu nhiều hơn về thế giới và bản thân, từ đó tự sửa mình để vượt qua các bẫy của thị trường.

Chuỗi các bài viết được lược dịch dựa trên bài nói chuyện huyền thoại của ngài Charlie Munger tại trường Harvard vào năm 1995, sau này được đặt tên là The Psychology Of Human Misjudgement.

#1. Tâm lý phản ứng mạnh mẽ với phần thưởng (Reward super-response tendency)

Ngài Munger: “Mặc dù tôi luôn nghĩ rằng tôi đã ở trong top 5% những kẻ cùng trang lứa về việc nghiên cứu động cơ (incentives), ấy vậy mà tôi vẫn đánh giá thấp và luôn luôn ngạc nhiên trước sức mạnh của nó.

Một trong những ví dụ mà tôi ưa thích nhất là case của công ty chuyển phát nhanh Federal Express (FedEx). Với yêu cầu phải thực hiện đóng gói và chuyển nhanh những kiện hàng trong ca tối, ban lãnh đạo FedEx vô cùng đau đầu khi nhân viên làm việc rất thiếu hiệu quả. Họ thử đủ mọi cách, từ tuyên truyền về trách nhiệm, đến việc kiểm điểm, camera giám sát, …, vậy mà mọi thứ vẫn chậm tiến độ.

Cho đến khi, một kẻ thông minh phát hiện ra rằng chính sách trả lương theo giờ (pay by hour) hiện tại thúc đẩy động cơ kéo dài giờ làm việc của các nhân viên ca tối lên. Họ đổi sang chính sách trả tiền theo ca (pay by shift), và nhân viên nào làm xong việc của mình thì được về sớm. Ngạc nhiên thay, giải pháp hướng đến lợi ích đó đã hoạt động cực kỳ hiệu quả! Các kiện hàng của FedEx ngày nay đã được xử lý thuộc top nhanh nhất thế giới.

Trong những ngày đầu lịch sử Xerox, Joe Wilson cũng đã gặp tình huống tương tự. Ông này phải đi xuống thực tế tại Xerox vì không hiểu tại sao một dòng máy in tốt và rẻ như vậy, lại có doanh số tệ hơn một dòng máy cũ hơn rất nhiều. Khi ông đến nơi, ông mới ngộ ra rằng chính sách hoa hồng (commission policy) của dòng máy cũ cho các nhân viên sale rất cao, thành ra họ có động cơ đẩy doanh số sản phẩm chất lượng kém ấy cho khách hàng – những người đáng nhẽ phải được đối xử tốt hơn.

Chúng ta nhất định cần ghi tâm lời răn mà ngài Ben Franklin đã viết trong quyển Poor Richard’s Almanack: “Nếu phải thuyết phục, hãy tập trung vào lợi ích thay vì lý lẽ.” Nguyên lý này là một la bàn chỉ hướng vô cùng khôn ngoan trong cuộc sống: đừng bao giờ nghĩ về thứ gì khác khi điều quan trọng nhất ta cần phải biết là động cơ riêng của mỗi người.

Một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất của tâm lý phản ứng mạnh từ phần thưởng: chính là thứ mà tôi gọi là mâu thuẫn tâm lý thực dụng” (incentive caused bias).

Một người mà có xuất thân đàng hoàng tử tế, vẫn có thể trở thành một kẻ thất đức trong môi trường mà các động cơ tiền bạc đã làm lu mờ anh ta, giống như trường hợp mà các nhân viên bán hàng Xerox đã lừa dối khách hàng họ vậy.

Những lĩnh vực dịch vụ chuyên môn như tài chính, hành luật, y tế, giáo dục, sửa chữa máy móc là nơi mà sự băng hoại đạo đức vì phản ứng với phần thưởng xảy ra nhiều nhất, do lợi thế thông tin của người cung cấp dịch vụ quá lớn so với các khách hàng.

Tình trạng mâu thuẫn tâm lý thực dụng tràn lan như vậy, khiến một người thông minh sẽ phải: (1) đặc biệt sợ hãi và tránh xa các lời khuyên từ chuyên gia tư vấn, khi chính sách thu nhập của người tư vấn không đồng nhất với lợi ích của ta (2) luôn phải check lại các lời khuyên một lần nữa và đặt tinh thần khách quan lên trên hết.”

#2. Tâm lý yêu thích (Liking/loving tendency)

Ngài Munger: “Ngoài yêu thích những đối tượng gần gũi như gia đình, bạn bè thuở nhỏ, một người có khả năng rất cao sẽ yêu thích việc được ngưỡng mộ và yêu thích bởi kẻ khác.

Chúng ta thường thấy như thế nào khi một người sẵn sàng phấn đấu cả đời để được ngưỡng mộ và tận tâm yêu thích bởi những người xa lạ mà chẳng liên quan máu mủ gì đến anh ta cả. 

Xu hướng này nhìn chung tạo ra động lực phấn đấu tích cực cho toàn xã hội, giúp những người cha, mẹ tạo ra của cải để nuôi dạy con cái, giúp con cái phấn đấu để không phụ lòng cha mẹ, giúp những bạn trẻ ngưỡng mộ những tấm gương phấn đấu để trở thành những tấm gương lớn hơn…

 

Tuy nhiên, một trong những hậu quả tương đối nguy hiểm là khi người yêu thích (liker/lover) bắt đầu dùng thiên hướng tâm lý này để hợp lý hóa cho việc:

– Làm lơ với lỗi lầm, hoàn toàn phục tùng những ý muốn của đối tượng họ yêu thích.

– Ưa thích mọi thứ về đối tượng chỉ vì người ưa thích có cảm tình với chúng.

– Loại bỏ tất cả những sự thật để thúc đẩy tình cảm.”

#3. Tâm lý ghét bỏ (Disliking/hating tendency)

Ngài Munger: “Trái ngược lại với xu hướng tâm lý yêu thích trên, loài người vốn đã sinh ra để ghét bỏ và thù hằn ngay từ đầu.

Lịch sử loài người của chúng ta tràn ngập những cuộc chiến tranh của các bộ tộc, tôn giáo, chính trị. Israel và Palestine mâu thuẫn với nhau hàng nghìn năm. Đúng như một câu châm ngôn thông thái nhất mà tôi từng nghe: “Chính trị là nghệ thuật của các trò tuyên chiến vì thù ghét nhau.

Tâm lý ghét bỏ còn hiện diện ở cấp độ gia đình, nơi mà chính những anh chị em ruột thịt đấu tranh, giành giật tài sản thừa kế và thù ghét nhau qua hàng chục năm.

Cũng tương tự như tâm lý yêu thích quá mức, hậu quả của tâm lý thù hằn là: một, chối bỏ những điểm tích cực và giá trị mà những đối tượng ta ghét bỏ mang lại; hai, ghét những sản phẩm/dịch vụ/con người chỉ vì liên kết trong quá khứ của ta.”

#4. Tâm lý xóa bỏ nghi ngờ để quyết định nhanh (Doubt-avoidance tendency)

Ngài Munger: “Bộ não con người chúng ta được lập trình để loại bỏ nghi ngờ nhằm quyết định thật nhanh. Thử nghĩ một con mồi như vậy mà cần vài phút để suy nghĩ xem nên làm gì khi thú dữ tấn công, thì ắt hẳn đã không thể tồn tại được đến ngày nay. Song, câu hỏi nên được đặt ra ở đây là điều gì gây ra tâm lý xóa bỏ nghi ngờ để quyết định nhanh?

Một người không hề bị đe dọa, hay hối thúc, ấy vậy mà vẫn bị một động lực nào đó xóa tan nghi ngờ và quyết định sai lầm. Điều này xảy ra cực kỳ phổ biến trong các tôn giáo cực đoan. Chúng ta sẽ bàn về điều này kĩ hơn khi nói về xu hướng tâm lý đám đông (social-proof) và xu hướng tâm lý bị áp lực (stress influence) ở các phần sau vậy…”

#5. Tâm lý nhất quán trong tư duy (Commitment & consistency tendency)

Ngài Munger: “Bộ não của loài người chúng ta được lập trình để ngại thay đổi. Chúng ta thấy điều này cực kỳ phổ biến trong thói quen của con người, kể cả thói quen tốt lẫn thói quen hủy hoại.

Rất hiếm người có thể tự liệt kê những thói quen xấu của mình ra và tự hào rằng mình đã tiêu diệt được nó – thậm chí một số người còn không thể nhận ra chúng. Và như thế, nhiều người dần chấp nhận các thói quen của mình như số phận, rồi từ bỏ việc thay đổi.

Một quy tắc ở đây để giải quyết lại một lần nữa đến từ lời khuyên của ngài Benjamin Franklin trong quyển Poor Richard’s Almanack: “Một tấc phòng ngừa còn hơn một tấn để chữa trị (one ounce of prevention is worth a pound of cure)”. Với tâm lý nhất quán trong tư duy, việc ta đề phòng các thói quen hủy hoại như cờ bạc, rượu chè, thuốc sách, ngoại tình, trễ hẹn, tiêu pha, lười biếng, trì hoãn … có lợi hơn rất nhiều với việc phải chữa trị thứ thói quen “xiềng xích” trói buộc ta.

Từ nhiều nghiên cứu khác nữa cộng lại, ông mới kết luận rằng não loài người cũng giống trứng loài người vậy (the human mind is a lot like the human egg). Khi một con tinh trùng đi vào bên trong trứng, mọi cánh cửa tự động đóng lại, ngăn tất cả các con khác đi vào. Não ta cũng hoạt động với cơ chế chẳng khác gì như thế. Một ý tưởng ta cho là hay, từng hoạt động tốt trong quá khứ, đột nhiên gặp ý tưởng khác hay hơn, hoặc ý tưởng tốt cũ của ta đã lạc hậu – óc ta vẫn tự động “đóng lại” lạ thường!

Có thể nói, người mà nghĩ ra liệu pháp hay nhất cho xu hướng tâm lý này là Charles Darwin. Ông tự rèn luyện cho ông cái thói quen khách quan: tìm kiếm mạnh mẽ (intensively) những bằng chứng chống lại các lập luận trước của ông – đặc biệt khi lập luận của ông cảm thấy rất hay. Ông chính là minh chứng của việc lợi dụng bẫy tâm lý của con người để hình thành nên một trong những bộ óc vĩ đại nhất lịch sử…”

#6. Tâm lý tò mò (Curiosity tendency)

Ngài Munger: “Có rất nhiều sự tò mò bẩm sinh trong các loài động vật có vú, đặc biệt là loài khỉ và vượng. Tuy nhiên, sự tò mò của loài người là dạng thể cao nhất, và tạo ra sự tiến hóa bậc cao như chúng ta thấy ngày nay. Sự tò mò là khởi nguồn cho việc thách thức các nền giáo dục lỗi thời, giúp con người ta chống lại các xu hướng tâm lý sai lầm trên như tính nhất quán, tính xóa bỏ nghi ngờ.

Ngay cả sau khi một người hoàn thành khóa học chính quy, sự tò mò của anh ta vẫn tiếp tục phát triển dài phia sau đó một cách thú vị, góp phần phục vụ cho cuộc đời và sự học của anh ta…”

#7. Tâm lý chia sẻ công bằng  (Kantian fairness tendency)

Ngài Munger: “Tiến sĩ Kant khá nổi tiếng trong việc chỉ ra các nguyên tắc ứng xử xã hội “vàng” mà loài người thường tuân theo nhằm đạt chuẩn mực đạo đức, tạo sự công bằng trong một hệ thống.

Trong xã hội hiện đại, chúng ta thường thấy các hành vi lịch sự như xếp hàng “ai tới trước thì được phục vụ trước” khá phổ biến. Ngoài ra, người ta còn thấy các tình huống chia đều lợi ích cho người lạ nếu như một món quà, hay một tai nạn xảy ra và nhiều người đến giúp đỡ.”

#8. Tâm lý đố kỵ (Envy/jealousy tendency)

Ngài Munger: “Một loài vật thông qua chọn lọc tự nhiên để tiến hóa, ắt hẳn sẽ có động lực rất mạnh với thực phẩm khi chúng thấy thực phẩm đầu tiên. Điều này dẫn đến sự mâu thuẫn kịch liệt (conflict) khi đồ ăn được nhìn thấy trong tay một con vật khác cùng chủng loài. Đây có lẽ là một trong những nguồn gốc quan trọng nhất của xu hướng tâm lý ghen ghét luôn nằm sâu thẳm trong mỗi con người.

Tâm lý ghen tỵ khá phổ biến, và vô cùng cực đoan khi ta nghe các câu chuyện thần thoại, tôn giáo, văn học mà ở đó đầy rẫy sự chém giết và bi thương. Vị thánh Moses thậm chí còn căn dặn trong 10 điều răn cho những tội lỗi của con người – trước cả khi Đức Jesus sinh ra – rằng: “Ngươi không được phép ham muốn nhà người ta, vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất kỳ vật gì của người ta.

Tâm lý đố kỵ này còn cực đoan trong thời đại thông tin hiện đại. Chúng ta thấy những đồng nghiệp/lãnh đạo cấp cao của những ngân hàng ghen ghét nhau ra sao khi biết được lương thưởng của nhau. Nhiều hãng luật, vì sợ chuyện này, nên quyết định trả tất cả thành viên hội động quản trị mức lương như nhau, để tránh gây mâu thuẫn lâu dài. Như Warren đã quan sát cuộc đời và chia sẻ một cách thông thái nhiều lần: “Không phải lòng tham thúc đẩy thế giới, mà là sự đố kỵ (It is not greed that drives the world, but envy)”

Còn tiếp – Tâm lý học đằng sau những hành vi sai lầm của loài người – Charlie Munger (kỳ 2)

Tiendientu.org hy vọng các nhà đầu tư tiền mã hóa cá nhân sẽ am hiểu bản chất của những “bẫy” tâm lý phổ biến, kiến tạo sự thành công trong đầu tư tiền mã hóa.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Avatar