Tiền tệ kỹ thuật số ở Việt Nam: điều gì đang làm cản trở sự phát triển ?

Satoshi Nakatomoon 21/03/2017

Follow Tiendientu on Telegram
Với việc sử dụng Internet tăng trung bình 10% mỗi năm trong 5 năm qua, Việt Nam là một trong những nền kinh tế số phát triển nhanh nhất trên thế giới, tạo ra một cơ hội tuyệt vời cho thương mại điện tử. Hơn một nửa dân số của Việt Nam hiện đang trực tuyến, đại diện cho một thị trường khoảng 50 triệu người. Sự tăng trưởng này đã tạo ra tiềm năng rất lớn trong nền kinh tế trực tuyến – nhưng có một số yếu tố lại làm chậm tiến độ.
Trước tiên, chúng ta hãy xem những gì người Việt Nam đang sử dụng Internet.
Số liệu thu thập được của bảng khảo sát người tiêu dùng cho thấy 72% người Việt Nam đang sử dụng smartphone.
Có một nhu cầu lớn về trực tuyến qua điện thoại di động – một nghiên cứu gần đây của Reaching Vietnam cho thấy người Việt Nam thường sở hữu nhiều điện thoại để tận dụng những ưu đãi tốt nhất với các nhà cung cấp cạnh tranh. Mặc dù vậy, sự thâm nhập của điện thoại thông minh vẫn chỉ khoảng 55%, để lại nhiều chỗ trống cho việc khai thác.
Về việc mà họ đang dành thời gian, theo Alexa top 10 trang web phổ biến nhất là:
Thật thú vị khi thấy Zalo – mạng truyền thông xã hội trong nước của Việt Nam đã tạo ra cơ hội kiếm tiền như Facebook. Sự phổ biến của nó đến từ nhu cầu của người sử dụng Việt Nam – cũng như dịch vụ trò chuyện và cuộc gọi thoại, nó cũng cho phép người dùng tìm kiếm thông tin hành chính như tiêm phòng và hẹn khám.
Rõ ràng, Việt Nam đang phát triển mạnh thương mại điện tử. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu được việc kinh tế chính trị xã hội và kinh tế phức tạp của đất nước tác động đến nền kinh tế số như thế nào. Sau đó các công ty sẽ nhận ra tiềm năng kinh doanh khổng lồ từ Việt Nam.

1. Việt Nam có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Việt Nam là một trong bốn nước xã hội chủ nghĩa còn lại trên toàn thế giới cùng với Trung Quốc, Cuba và Lào.
Sau cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1973, miền Bắc và miền Nam Việt Nam đã dần dần thống nhất, dẫn đến việc hình thành nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày nay vào tháng 7 năm 1976. Đất nước này được Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt.
Năm 1986, cải cách Đổi mới đã được thực hiện với mục tiêu tạo ra một “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” – một nơi mà nhà nước duy trì sự quản lý về nền kinh tế, nhưng các công ty tư nhân và hợp tác xã đóng một vai trò quan trọng trong việc sản xuất hàng hoá và cung cấp dịch vụ.
Điều này hầu như giống với cách tiếp cận được Trung Quốc chấp nhận. Ý tưởng là ở giai đoạn đầu của việc phát triển một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, đầu tiên một quốc gia phải chấp nhận kỹ thuật tư bản chủ nghĩa để phát triển.
Theo lý thuyết, doanh nghiệp tư nhân tồn tại ở Việt Nam với mục đích là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên thực tế, điều này có nghĩa là các công ty tư nhân có thể hoạt động tại Việt Nam như ở bất kỳ quốc gia nào khác. Sự khác biệt đến từ mức độ người tiêu dùng.

2. Việt Nam và báo chí

Một trong những lý do tại sao phương tiện  công nghệ truyền thông kỹ thuật số được đưa ra ở Việt Nam là vì các phương tiện truyền thông truyền thống như máy in và truyền hình được quản lý bởi chính phủ.
Mặc dù Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất trong cả nước nhưng các vấn đề truy cập trang web đã được báo cáo kể từ năm 2009.
Các vấn đề chưa kết thúc ở đó. Trong năm 2010, chính phủ đã đưa ra luật yêu cầu tất cả các nơi công cộng cung cấp dịch vụ internet để cài đặt phần mềm giám sát. Điều này đặc biệt gây phiền hà vì Việt Nam có nền văn hoá café sôi động và nhiều người Việt Nam kết nối với mạng Wifi công cộng để sử dụng internet.
Để ngăn chặn tình trạng này, vào năm 2013, chính phủ Việt Nam đã đưa ra Nghị định 72, làm cho việc phân phối bất kỳ tài liệu nào trực tuyến “gây tổn hại đến an ninh quốc gia” hoặc “phản đối” chính phủ là bất hợp pháp. Điều này đã dẫn chính phủ Anh phân loại Việt Nam là “quốc gia cần quan tâm” liên quan đến tự do ngôn luận.

3. Cơ sở hạ tầng không phải là hàng đầu

Vấn đề cuối cùng đối mặt với nền kinh tế số ở Việt Nam là cơ sở hạ tầng. Cho đến năm ngoái, Việt Nam đã được kết nối với mạng lưới trên toàn thế giới chỉ bằng bốn cáp Internet: cáp AAG của châu Á (AIA), chạy qua Hawaii tới Mỹ; Cáp Intra Asia (IA), cáp SMW3 (Đông Nam Á, Trung Đông, Tây Âu 3) và cáp TVH (Thái Lan – Việt Nam – Hồng Kông).
Trong số bốn cáp, AAG là quan trọng nhất, nó giữ băng thông lớn nhất và kết nối Việt Nam với các trang web của Mỹ. Thật không may, đây cũng là kết nối đáng tin cậy nhất và đã bị gián đoạn nghiêm trọng vào năm 2017. Thay vào đó, chính phủ thường báo cáo vấn đề là do cá mập cắn cáp và việc sửa chữa vấn đề kết nối đôi khi kéo dài đến ba tuần.
May mắn thay, cơ sở hạ tầng đang được cải thiện. Một dự án dài 7 năm xây dựng một cáp kết nối toàn bộ khu vực Châu Á Thái Bình Dương đã được hoàn thành vào tháng 10 năm 2016. Cáp đã được đầu tư từ các công ty khổng lồ như Facebook và China Telecom, cho thấy mức độ quan tâm cao của công ty đối với nền kinh tế số của Đông Nam Á .

Tổng kết

Sự khao khát khổng lồ đối với phương tiện truyền thông kỹ thuật số và thương mại điện tử ở Việt Nam không hề thuyên giảm. Thật không may, nhu cầu lại vượt xa khả năng. Việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng internet mới tích cực và cho thấy Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ cuộc cách mạng kỹ thuật số nhiều như các nước láng giềng đã có. Nhưng các luật giám sát kỹ thuật số ngày càng nghiêm ngặt đã được chính phủ đưa ra là một vấn đề lớn hơn – và không biết họ sẽ đi xa đến đâu.
Đó là một môi trường gây khó chịu cho bất kỳ công ty kỹ thuật số nào. Tuy nhiên, vẫn có các chủ doanh nghiệp có niềm tin cháy bỏng của người Việt Nam mong muốn để phát triển.
[econsultancy – 20.3.2017]
ThuyDo – tiendientu.org
Follow Tiendientu on Telegram